Sự ra đời thuốc điều trị phong đầu tiên, ghi nhận lại công lao nhà phát minh trẻ

Trước khi ra đời thuốc kháng sinh sulfone trị bệnh phong vào thập niên 1940, thì việc điều trị bệnh này chủ yếu bằng thuốc điều chế từ dầu của hạt cây Đại phong tử…

Ngày hôm nay, bệnh phong có thể trị khỏi, song nó vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới hàng vạn người mỗi năm. Năm 2020, WHO ghi nhận có 127.558 bệnh nhân phong mới trên toàn cầu, hơn một nửa là người Ấn Độ. Những cống hiến của nhà khoa học Alice Ball trong điều trị bệnh phong đã bị bỏ quên trong suốt nhiều thập niên nay được nhắc lại.

1. Tìm ra thuốc điều trị bệnh phong dạng tiêm từ dầu hạt cây Đại phong tử

Sự ra đời thuốc điều trị phòng đầu tiên, ghi nhận lại công lao

Mới 23 tuổi, bà Alice Ball đã phát minh ra dầu hạt Đại phong tử – cách điều trị bệnh phong buổi ban đầu.

Là một nhà hóa học tại Trường đại học Hawaii (khi đó là Cao đẳng Hawaii) vào giữa thập niên 1910, bà Alice Ball đã phát triển ra một trong những phương pháp đặc trị đầu tiên của chứng nhiễm trùng mãn tính, bằng cách chiết xuất dầu từ hạt của trái Đại Phong Tử để tiêm vào máu bệnh nhân.

Tuy nhiên, suốt hàng thập niên, phương pháp này của Alice Ball này đã bị bỏ qua, bởi vì bà vừa là phụ nữ, lại vừa là người da màu.

Thủa còn là sinh viên, Alice Ball đã có bài viết được đăng trên Tạp chí Hội hóa học Hoa Kỳ – tạp chí hóa học uy tín nhất thời kỳ đó. Tốt nghiệp năm 1915, Alice trở thành nữ giảng viên hóa học người gốc Phi đầu tiên của Đại học Hawaii. Lúc còn là học viên cao học, bà Alice Ball đã tham gia vào nghiên cứu các thành phần hóa học của thực vật, đặc biệt là củ Awa (còn có tên khác là Kava).

Ở Hawaii, củ Awa được coi là thuốc trị bách bệnh, từ mất ngủ, nhức đầu, rối loạn tâm thần. Bà Alice Ball nghiên cứu về chất chua, khả năng hòa tan và nhựa của củ Awa nhằm tìm hiểu xem nó có thể được tiêm vào cơ thể bệnh nhân để trị bệnh hay không. Nghiên cứu của bà Alice Ball đã thu hút sự chú ý của ông Harry T. Hollmann, vị bác sĩ đang dùng dầu hạt Đại phong tử để trị bệnh phong dạng nhẹ.

Dù người châu Á đã dùng loại dầu này để trị các bệnh về da suốt nhiều thế kỷ, nhưng mãi đến năm 1854, bác sĩ người Anh-Frederic John Moaut mới giới thiệu các đặc tính y học của nó trong thế giới phương Tây.

Các thầy thuốc phương Tây tỏ ra lúng túng trong việc sử dụng hiệu quả dầu Đại phong tử vì khi uống thì gây buồn nôn, còn tiêm thì gây ra chứng áp xe da rất đau đớn.

Năm 1915, bác sĩ Hollmann tuyển dụng Alice Ball nhằm giúp tìm ra cách dễ tiêm dầu thuốc hơn. Lúc đó thổ dân Hawaii đang đối mặt với đại dịch phong – một bệnh truyền nhiễm mãn tính do vi khuẩn phát triển chậm gây ra. Bệnh phong ảnh hưởng tới con người ở mọi lứa tuổi. Các triệu chứng có thể hình thành bất kỳ lúc nào từ 1 đến 20 năm sau khi nhiễm bệnh.

Mới 23 tuổi, bà Alice Ball đã phát minh ra dầu hạt Đại phong tử - cách điều trị bệnh phong buổi ban đầu.

Lãnh địa phong hủi Kalaupapa từ năm 1922. Ảnh nguồn: Public Domain via Wikimedia Commons

Khi tập trung vào công việc giảng dạy tại đại học hoặc làm tình nguyện viên dạy tiếng Anh, bà Alice Ball thường mò mẫm trong phòng thí nghiệm nhằm tìm ra cách khiến tinh dầu Đại phong tử hòa tan trong nước.

Được sự hỗ trợ bởi ông Arthur L. Dean (giáo sư hóa và sau đó là Chủ tịch của Đại học Hawaii), Alice Ball đã đạt được thành tựu chỉ trong 1 năm.

Năm 1915, bà Alice Ball đã đóng băng acid béo của dầu Đại phong tử nhằm cô lập ra hợp chất ester – có thể tạo nên một dạng thuốc tiêm ở dạng nước hòa tan và hiệu quả. Tiếc thay, năm 1916, bà Alice Ball bị ốm nặng và tử vong.

Sau khi Alice Ball mất, GS. Arthur L. Dean đã thực hiện một số điều chỉnh nhỏ trong khám phá của Alice trước khi công bố thành tựu. Tuy nhiên đã lấy tên là “phương pháp Dean” và không hề có ghi nhận về công lao của Alice Ball trước đó.

Cách trị bệnh phong này đã chứng minh hứa hẹn. Theo một báo cáo năm 1922 của Bộ nội vụ Mỹ thì Phương pháp Dean đã chứng minh hiệu quả ở những trường hợp bệnh phong nặng. Từ giữa năm 1919 và 1923, không có bệnh nhân phong nào được đưa đến trại phong Kalaupapa (nơi những bệnh nhân phong bị đưa đến và cách ly) thay vào đó họ được chữa trị và cho xuất viện.

Mãi tới thập niên 1940, sự ra đời của thuốc kháng sinh sulfone – một phương pháp trị phong hiệu quả cao dần thay thế cho phương pháp từ dầu Đại phong tử.

2. Trả lại công lao cho nhà nữ khoa học

Lãnh địa phong hủi Kalaupapa từ năm 1922. Ảnh nguồn: Public Domain via Wikimedia Commons

Trái của cây Đại Phong Tử có tác dụng điều trị bệnh phong hủi.

Trong một bài báo công bố vào năm 1922, bác sĩ Hollmann đã ghi công cho bà Alice Ball: “Sau một lượng lớn công việc, bà Alice đã giải quyết khó khăn cho tôi bằng cách làm ra ehyl ester từ acid béo tìm thấy trong dầu hạt Đại phong tử”.

Gần đây hơn, một nhà nghiên cứu về hưu đến từ Baltimore (tiểu bang Maryland) tên là Stan Ali cũng đã trả lại công lao cho bà Alice Ball. Phát biểu với báo Honolulu Star-Bulletin vào năm 2000, ông Ali cũng đã ghi nhận công lao của bà Alice.

Cây Đại phong tử được trồng ở khu học xá Manoa thuộc Đại học Hawaii vốn là món quà của Vua Prajadhipok (Thái Lan) từ năm 1935. Đến năm 2000, một tấm bảng bằng đồng lấy ngày 29 tháng 2 hàng năm làm Ngày Alice Ball đặt dưới gốc cây Đại phong tử đó. Năm 2007, Đại học Hawaii đã trao tặng huân chương xuất sắc cho bà Alice. Và đến năm 2017, ông Paul Wermager đã thành lập Học bổng Alice Ball nhằm tôn vinh những thành tựu của bà trong việc hỗ trợ sinh viên khoa học từ những nhóm yếu thế.

Phản hồi của bạn

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *